Thứ bảy, Tháng năm 23, 2026
HomeChứng KhoánStarbucks - chuỗi cửa hàng cà phê hàng đầu thế giới

Starbucks – chuỗi cửa hàng cà phê hàng đầu thế giới

Share

Starbucks là một công ty của Mỹ kinh doanh chuỗi cửa hàng cà phê lớn nhất và cũng là thương hiệu được nhận biết nhiều nhất trên thế giới. Có trụ sở được đặt tại Seattle, Washington, công ty đang vận hành hơn 38 nghìn cửa hàng tại 86 quốc gia (tính đến năm 2023).

Trụ sở chính của Starbucks tại Seattle

Mặc dù Starbucks không phải là chuỗi cửa hàng cà phê lớn đầu tiên ở nước Mỹ, nhưng nó là thương hiệu cụ thể đầu tiên nổi tiếng và có mật độ phân phối lớn trong ngành cà phê.

Bắt đầu trong vào những năm 1990, Starbucks đã bắt đầu quảng bá cà phê như là một trải nghiệm toàn diện, là tổng hòa của các yếu tố không gian, cộng đồng, chức năng và lối sống. Bằng cách thay đổi nhận thức của người dân về cà phê và quán cà phê, Starbucks đã đạt được sự tăng trưởng vượt trội và khẳng định bản thân như là một trong những thương hiệu thống trị nhất trong ngành công nghiệp cửa hàng cà phê.

LỊCH SỬ THÀNH LẬP STARBUCKS

Những ngày đầu tiên

Cửa hàng Starbucks Coffee nguyên bản tại địa chỉ 1912 Pike Place ở Seattle, Washington.

Starbucks được thành lập bởi Jerry Baldwin, Gordon Bowker, và Zev Siegl, với cửa hàng đầu tiên được mở ra vào năm 1971, gần khu chợ Pike Place lịch sử ở Seattle. Ba thành viên sáng lập của Starbucks có hai điểm chung lớn: họ đều xuất thân từ học viện, và cả ba đều yêu trà cùng cà phê. Họ đã đầu tư và vay mượn để mở được cửa hàng đầu tiên ở Seattle rồi đặt tên cho nó là “Starbucks” theo tên nhân vật trong cuốn tiểu thuyết kinh điển Moby Dick của Herman Melville.

Nguồn cảm hứng cho các thành viên sáng lập Starbucks là Alfred Peet, một doanh nhân chuyên về cà phê rang, chuyên kinh doanh các sản phẩm trà và cà phê cấp cao, hảo hạng. Chính thành công của Peet đã khuyến khích các những người sáng lập Starbucks đi theo mô hình kinh doanh bán hạt cà phê và thiết bị chất lượng cao. Sau đó, họ đã mua một chiếc máy rang cà phê đã qua sử dụng, Baldwin và Bowker đã thử nghiệm các kỹ thuật rang của Peet để tạo ra các các sản phẩm pha trộn và hương vị của chính họ.

Vào đầu những năm 1980, Starbucks đã có 4 cửa hàng ở Seattle, vượt trội hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh nhờ sản phẩm cà phê rang tươi mới chất lượng cao của mình. Vào năm 1980, Siegl đã quyết định theo đuổi các mối quan tâm khác, và tách khỏi hai thành viên còn lại, Baldwin từ đó đảm nhiệm vai trò chủ tịch của công ty. 

Kỷ nguyên mang tên Howard Schultz

Vào năm Howard Schultz, khi đó là đại diện bán hàng cho Hammarplast, một công ty Thụy Điển chuyên sản xuất thiết bị nhà bếp và đồ gia dụng, nơi Starbucks đặt mua máy pha cà phê, nhận thấy đơn hàng từ Starbucks rất lớn và quyết định đến thăm công ty.

Schultz đã ấn tượng tới nỗi ông quyết định theo đuổi sự nghiệp ở Starbucks và được thuê làm giám đốc tiếp thị vào năm 1982. Khi nhận ra nhiều khách hàng không thấy thoải mái khi thiếu kiến thức về cà phê cao cấp, ông đã làm việc với nhân viên cửa hàng để phát triển kỹ năng bán hàng, tạo tờ rơi để quảng cáo thêm về sản phẩm của công ty.

Sự gắn bó của cựu CEO Howard Schultz với Starbucks không chỉ là chức danh và quyền ra vào công ty

Vào năm 1983, khi đến Milan, Schultz đã rất ấn tượng với các quán cà phê ở Ý và phát hiện ra rằng chỉ riêng tại Milan đã có tới 1,500 quán cà phê. Được truyền cảm hứng, ông nghĩ đên việc làm điều gì đó tương tự ở Starbucks, nhằm biến một hoạt động kinh doanh nhỏ trong khu vực thành một chuỗi cửa hàng trên khắp cả nước. Nhưng Baldwin và Bowker không mấy hứng thú vì họ không muốn Starbucks đi chệch khỏi mô hình kinh doanh ban đầu.

Vào năm 1985, Schultz rời khỏi Starbucks khi không đạt được đồng thuận và kinh doanh chuỗi cà phê của riêng ông với tên Il Giornale, đã nhanh chóng thành công và mở rộng sang nhiều thành phố.

Vào tháng 3/1987, Baldwin và Bowker quyết định bán Starbucks, ông Schultz đã nhanh chóng sử dụng Il Giornale để mua lại cùng với sự hỗ trợ của các nhà đầu tư. Sau đó, ông đã kết hợp hoạt động kinh doanh của mình dưới thương hiệu Starbucks. Dưới sự chỉ đạo của ông, trong vòng 4 năm, chuỗi cửa hàng cà phê đã phát triển từ chưa tới 20 cửa hàng lên hơn 100 cửa hàng. Công ty bước vào thời kỳ mở rộng nhanh chóng và vẫn duy trì sau khi thực hiện niêm yết trên sàn chứng khoán vào năm 1992.

Vào năm 1996, công ty mở thêm các cửa hàng bên ngoài Bắc Mỹ và nhanh chóng trở thành chuỗi cửa hàng cà phê lớn nhất thế giới. Vào cuối thập kỷ, công ty cà phê này đã có khoảng 2,500 cửa hàng ở hơn 10 quốc gia.

Biểu tượng ban đầu của Starbucks trên cửa sổ của cửa hàng ở Chợ Pike Place (Seattle).

LỢI THẾ CHIẾN LƯỢC VÀ CẠNH TRANH

Sự thống trị của Starbucks trong các công ty bán lẻ cà phê có thể bắt nguồn từ một vài sáng kiến chiến lược và lợi thế cạnh trạnh quan trọng, bao gồm:

Quảng bá cà phê như là một trải nghiệm xã hội và văn hóa

Bằng việc tập trung vào chất lượng của đồ uống từ cà phê và không khí tại quán, Starbucks đã tái định hình cà phê như là một thức uống xa xỉ nhưng có thể chi trả được, và được tận hưởng trong một không gian xã hội “thứ ba” chỉ sau nhà và nơi làm việc. Các cửa hàng Starbucks trở thành địa điểm nổi tiếng cho các buổi tụ họp xã hội, gặp gỡ kinh doanh nhỏ, học tập và làm việc. Starbucks có được lợi thế đi đầu trong thị trường cà phê bằng cách trở thành công ty đầu tiên định nghĩa và tuyên truyền rộng khắp về thương hiệu của mình – văn hóa cửa hàng cà phê.

Chiến lược tập trung

Chiến lược tập trung của Starbucks được triển khai dựa trên các yếu tố như mật độ dân số, mức thu nhập, khoảng cách địa lý với các công ty, tiện nghi nội thất và sự cạnh tranh, cùng với mẫu hình lưu lượng khách hàng đến quán nói chung. Điều này giúp Starbucks đạt được sự thống lĩnh về mặt địa lý mà không rơi vào tình trạng tự tước đoạt doanh thu (tức là: các cửa hàng mới thành lập của Starbucks sẽ lấy đi doanh thu từ các cửa hàng hiện hữu).

Đổi mới sản phẩm

Công ty không ngừng đưa ra các sản phẩm và hương vị mới. Tryer Center, được đặt tại Seattle, Washington, là ‘văn phòng cải tiến’ chủ chốt của công ty, là nơi phát triển và thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ mới của hãng.

Tích hợp theo Chiều dọc

Không như nhiều các đối thủ cạnh tranh trực tiếp khác của hãng, chuỗi cung ứng cà phê của Starbucks được tích hợp theo chiều dọc, bắt đầu từ đồn điền cà phê, cho tới việc xử lý rang xay, và trở thành đồ uống. Điều đó sẽ cho phép Starbucks kiểm soát tốt hơn chi phí, quy trình và chất lượng. Nó cũng góp phần thiết lập quy mô kinh tế toàn cầu cho công ty.

Xem thêm

Liên quan